
Theo Nghị định số 23/2026/NĐ-CP, Chính phủ bổ sung các điều 8a, 8b, 8c và 8d của Nghị định số 54/2024/NĐ-CP ngày 16/5/2024, quy định cụ thể về nguyên tắc, căn cứ và điều kiện trong việc đăng ký, cấp giấy phép thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên nước, bao gồm nước mặt, nước dưới đất và nước biển.
Về nguyên tắc đăng ký, cấp phép, Nghị định quy định việc thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Việc cấp phép phải bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy phép cũng như các chủ thể liên quan. Đồng thời, việc đăng ký, cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước được ưu tiên cho mục đích cấp nước sinh hoạt, gắn với yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước và môi trường, không làm suy thoái, cạn kiệt hoặc gây ô nhiễm nguồn nước.
Đối với căn cứ cấp giấy phép, Nghị định quy định việc cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và giấy phép thăm dò nước dưới đất phải dựa trên quy hoạch tài nguyên nước, bao gồm chức năng nguồn nước, giới hạn khai thác đối với từng sông, đoạn sông, ngưỡng khai thác các tầng chứa nước, yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước. Bên cạnh đó, việc cấp phép còn căn cứ vào quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, các quy định về vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất và hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong khu vực.
Trường hợp chưa có quy hoạch hoặc quy hoạch chưa quy định cụ thể, chưa ban hành vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, hoặc cần giải quyết nhu cầu cấp bách về nước sinh hoạt cho nhân dân, việc cấp phép được xem xét trên cơ sở khả năng đáp ứng của nguồn nước và tính cấp thiết của nhu cầu khai thác, sử dụng. Ngoài ra, kết quả thẩm định hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền và nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước thể hiện trong văn bản đề nghị cấp phép cũng là những căn cứ quan trọng.
Về điều kiện cấp giấy phép, tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước khi đã hoàn thành việc lấy ý kiến theo quy định của Luật Tài nguyên nước và đáp ứng các yêu cầu phù hợp với quy hoạch, quy định về bảo vệ tài nguyên nước. Đối với khai thác nước dưới đất, hoạt động khai thác phải phù hợp với quy định về vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất. Trường hợp đề nghị cấp giấy phép thăm dò nước dưới đất, tổ chức, cá nhân phải có đề án thăm dò với phương án thi công phù hợp, đáp ứng yêu cầu bảo vệ nước dưới đất.
Đối với tổ chức khai thác nước mặt có xây dựng đập, hồ chứa trên sông, suối, ngoài các điều kiện chung, còn phải có phương án về thiết bị, nhân lực để thực hiện quan trắc khí tượng thủy văn, dự báo lượng nước đến hồ, vận hành hồ chứa và giám sát hoạt động khai thác tài nguyên nước. Đồng thời, phải có quy trình vận hành hồ chứa theo quy định của pháp luật về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước và các quy định pháp luật có liên quan.
Về thời hạn giấy phép, Nghị định quy định giấy phép khai thác nước mặt có thời hạn tối đa 10 năm, tối thiểu 5 năm; giấy phép khai thác nước biển có thời hạn tối đa 15 năm, tối thiểu 10 năm; giấy phép khai thác nước dưới đất có thời hạn tối đa 5 năm, tối thiểu 3 năm. Các loại giấy phép này đều được xem xét gia hạn nhiều lần, với thời gian gia hạn tương ứng theo từng loại. Giấy phép thăm dò nước dưới đất có thời hạn 2 năm và được gia hạn một lần, thời gian gia hạn không quá 1 năm.
Nghị định số 23/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung quy định về gia hạn giấy phép. Theo đó, hồ sơ đề nghị gia hạn phải được nộp trước khi giấy phép hết hiệu lực ít nhất 45 ngày. Tại thời điểm nộp hồ sơ, tổ chức, cá nhân phải hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính về tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước theo quy định và không có tranh chấp. Trường hợp không nộp hồ sơ gia hạn đúng thời hạn nhưng vẫn có nhu cầu tiếp tục khai thác tài nguyên nước thì tổ chức, cá nhân phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép mới theo quy định của pháp luật.
Biên tập viên Cổng TTĐT tỉnh
