
Lãnh đạo xã Tân Mỹ khảo sát tình hình trồng rừng FSC tại thôn Nà Héc.
Tuyên Quang đang đứng trước cơ hội chuyển từ khai thác truyền thống sang phát triển lâm nghiệp bền vững, trọng tâm là trồng rừng gỗ lớn đạt chứng chỉ FSC phục vụ thị trường xuất khẩu. Đây là hướng đi nâng tầm giá trị tài nguyên rừng, mở ra triển vọng hình thành chuỗi giá trị lâm nghiệp khép kín, tạo sinh kế ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân.
Ở xã Tân Mỹ, nơi được xem là điểm sáng trong phát triển rừng bền vững, hàng chục hộ dân đã tham gia mô hình từ những năm đầu triển khai. Gắn bó với nghề rừng nhiều năm, ông Vũ Xuân Tiến, thôn Hùng Cường nhận thấy, trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn mở ra hướng làm giàu bền vững. Ông Tiến chia sẻ: Gia đình hiện chăm sóc hơn 3,3 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC. Khi đến kỳ khai thác, mỗi ha rừng có thể cho thu nhập hơn 100 triệu đồng/chu kỳ, cao hơn khoảng 5 - 10% so với rừng trồng thông thường.
Từ hiệu quả của những mô hình cụ thể, xã Tân Mỹ xác định phát triển rừng FSC là một trong những hướng đi quan trọng để nâng cao giá trị kinh tế lâm nghiệp. Bí thư Đảng ủy xã Hoàng Trần Trung cho biết: Ngay sau khi vận hành chính quyền cấp xã mới, lãnh đạo xã đã tổ chức khảo sát tình hình trồng rừng FSC để có kế hoạch phát triển, mở rộng quy mô diện tích trong thời gian tới. Trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC đã và đang khẳng định là hướng đi đúng đắn, bền vững và là mũi nhọn để phát triển kinh tế, giảm nghèo của xã.
Không chỉ người dân hưởng lợi, các doanh nghiệp lâm nghiệp cũng đang tận dụng tốt cơ hội từ vùng nguyên liệu đạt chuẩn quốc tế. Theo ông Trần Xuân Quảng, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn, hiện đơn vị đang quản lý gần 2.000 ha rừng được cấp chứng chỉ quốc tế FSC. Việc phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn tạo lợi thế lớn trong mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các đối tác xuất khẩu.

Cán bộ xã Hồ Thầu khảo sát, đánh giá hiệu quả mô hình trồng sa nhân tím dưới tán rừng.
Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có trên 96.582 ha rừng đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, trở thành một trong những địa phương có diện tích rừng cấp chứng chỉ FSC lớn nhất cả nước. Mỗi ha rừng trồng theo tiêu chuẩn FSC/PEFC mang lại thu nhập cao hơn từ 5 - 10% so với rừng thông thường; giá trị sản phẩm thu được trung bình từ 1 ha rừng FSC trong chu kỳ 7 năm là khoảng trên 100 triệu đồng.
Không chỉ nâng cao giá trị từ gỗ, tỉnh đang từng bước khai thác tiềm năng kinh tế dưới tán rừng, mở thêm hướng sinh kế cho người dân. Tại xã Hồ Thầu, hơn 500 ha thảo quả được phát triển dưới tán rừng, tập trung ở các thôn: Chiến Thắng, Tân Minh, Trung Thành, Sơn Thành Thượng. Điều kiện khí hậu, độ ẩm và nguồn che phủ tự nhiên phù hợp giúp cây sinh trưởng tốt, trở thành nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ dân.
Gia đình anh Lò Văn Sinh, thôn Sơn Thành Thượng là một trong những hộ có diện tích thảo quả lớn nhất xã với hơn 40 ha. Trong đó, gần 20 ha đã cho thu hoạch, số diện tích còn lại đang trong thời kỳ chăm sóc. Anh Sinh chia sẻ: Hiện nay mỗi vụ gia đình thu được từ 4 - 5 tấn thảo quả tươi. Sau khi trừ chi phí, thu nhập đạt trên 150 triệu đồng mỗi năm. Có nguồn thu từ thảo quả nên gia đình yên tâm bám rừng phát triển kinh tế.
Cùng với đó, nhiều địa phương vùng cao cũng đang từng bước khai thác tiềm năng kinh tế dưới tán rừng. Tại xã Côn Lôn, mô hình trồng sa nhân dưới tán rừng ở thôn Phiêng Ten với diện tích khoảng 12 ha bước đầu cho hiệu quả tích cực. Cùng với thảo quả, sa nhân tím, nhiều loại dược liệu bản địa đang được tổ chức sản xuất theo hướng hàng hóa, từng bước hình thành vùng nguyên liệu gắn với liên kết tiêu thụ và chế biến. Tại xã Vị Xuyên, HTX Dược liệu Sơn Ý liên kết với người dân phát triển vùng nguyên liệu một số loại dược liệu như bồ công anh, rau ngót rừng, khôi nhung tía, đẳng sâm bắc; đồng thời đầu tư chế biến thành trà thảo dược, bột dược liệu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm.
Thực tế cho thấy, phát triển kinh tế dưới tán rừng đang tạo ra hiệu quả kép: Vừa tận dụng hợp lý tiềm năng đất rừng để tăng thu nhập, vừa tạo động lực để người dân giữ gìn hệ sinh thái. Đây là một trong những hướng đi quan trọng để Tuyên Quang từng bước chuyển từ kinh tế rừng đơn giá trị sang lâm nghiệp đa giá trị, bền vững.

Rừng kinh tế xã Tân Long.
Để phát huy lợi thế tài nguyên rừng, nâng cao giá trị kinh tế, cần có sự định hướng và hỗ trợ hiệu quả của Nhà nước thông qua cơ chế, chính sách phù hợp. Nghị quyết số 90-NQ/TU ngày 12/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030 xác định: Phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội trên địa ban tỉnh là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, là trụ cột quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Chuyển đổi mạnh mẽ tư duy từ phát triển lâm nghiệp dựa vào khai thác lâm sản đơn thuần sang phát triển kinh tế lâm nghiệp đa giá trị.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 90-NQ/TU, UBND tỉnh đã ban hành Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững, tạo khuôn khổ thống nhất để huy động, phân bổ nguồn lực, phát triển lâm nghiệp theo hướng hiện đại, đa giá trị; chuyển hóa tiềm năng, lợi thế về rừng thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân, góp phần xây dựng Tuyên Quang trở thành trung tâm phát triển lâm nghiệp bền vững của vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Theo định hướng đến năm 2030, tỉnh phấn đấu sản lượng gỗ rừng trồng khai thác bình quân đạt 1,5 triệu m3/năm; tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân 8-10%/năm; giá trị thu được trên một ha rừng trồng sau một chu kỳ kinh doanh đạt từ 150 triệu đồng trở lên; tỷ lệ che phủ rừng duy trì trên 62%. Tỷ lệ gỗ rừng trồng đưa vào chế biến sâu phấn đấu trên 70%, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt khoảng 180-200 triệu USD/năm.
Theo đồng chí Mai Thị Hoàn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, thời gian tới tỉnh tiếp tục tập trung nâng cao năng suất, chất lượng rừng; khuyến khích phát triển rừng gỗ lớn, cây bản địa, cây đa mục đích; thực hiện quản lý rừng bền vững, cấp chứng chỉ rừng, mã số vùng trồng; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý và truy xuất nguồn gốc lâm sản; chuẩn bị các điều kiện, sẵn sàng tham gia thị trường tín chỉ các-bon phù hợp theo lộ trình, định hướng của Trung ương.
Ban Biên tập Cổng TTĐT tỉnh
