Ba dự án được đưa ra thảo luận gồm: cao tốc Bảo Hà - Lai Châu, đoạn Bảo Hà - Tân Phong; cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum; cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, đoạn qua địa phận tỉnh Sơn La. Các ý kiến tập trung phân tích hiệu quả kết nối vùng, khả năng cân đối nguồn vốn, tác động môi trường và chính sách bảo đảm ổn định đời sống người dân bị ảnh hưởng.

Đồng chí Lê Thị Kim Dung, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang chủ trì phiên thảo luận tại Tổ 14.
Bảo đảm nguồn lực, ổn định đời sống người dân
Phát biểu tại phiên thảo luận, đồng chí Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Tuyên Quang thống nhất với chủ trương đầu tư ba dự án. Đại biểu nhấn mạnh, các tuyến cao tốc sẽ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn về giao thông, mở rộng không gian phát triển, thúc đẩy giao thương, du lịch, tăng cường liên kết vùng, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đối với hai dự án tại khu vực Tây Bắc, đại biểu đề nghị cần đặt trong tổng thể mạng lưới giao thông liên kết giữa các tỉnh biên giới; đầu tư đồng bộ các tuyến giao thông liên tỉnh, bảo đảm kết nối cao tốc với vùng sản xuất, khu du lịch, trung tâm logistics và cửa khẩu. Riêng tuyến cao tốc Bảo Hà - Lai Châu, cần xác định lộ trình đầu tư đoạn còn lại từ Tân Phong hướng tới cửa khẩu Ma Lù Thàng nhằm phát huy hiệu quả khai thác toàn tuyến.
Theo số liệu trong báo cáo thẩm tra được đại biểu dẫn tại phiên thảo luận, tỉnh Lai Châu dự kiến phải bố trí 2.004 tỷ đồng tham gia dự án Bảo Hà - Tân Phong, tương đương khoảng 38,7% kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 của tỉnh. Đại biểu cho rằng đây là áp lực lớn đối với một địa phương miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn. Việc dành tỷ trọng lớn vốn đối ứng cho dự án có thể ảnh hưởng đến nguồn lực đầu tư hạ tầng sản xuất, trường học, y tế, giảm nghèo và các tuyến giao thông kết nối, từ đó tác động đến hiệu quả khai thác cao tốc.

ĐBQH Lý Thị Lan thảo luận tại tổ.
Đại biểu đề nghị Chính phủ nghiên cứu phương án ngân sách trung ương bảo đảm toàn bộ vốn đầu tư dự án Bảo Hà - Tân Phong, tương tự phương án đề xuất đối với dự án Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, đoạn qua địa phận tỉnh Sơn La. Việc xác định mức vốn địa phương tham gia cần căn cứ vào tính chất, phạm vi dự án và khả năng cân đối ngân sách thực tế, tránh áp dụng cứng nhắc tỷ lệ vốn đối ứng. Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm bảo đảm nguồn vốn, nhất là phần vốn bố trí sau năm 2030, hạn chế nguy cơ chậm tiến độ, kéo dài thời gian thực hiện dự án.
Về quản lý bãi thải, đại biểu cho biết, theo hồ sơ dự án, cao tốc Bảo Hà - Tân Phong dự kiến có khoảng 8,6 triệu m³ đất, đá cần đổ thải; dự án Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, đoạn qua địa phận tỉnh Sơn La, có khối lượng đất, đá đổ thải khoảng 60,8 triệu m³. Trong điều kiện địa hình dốc, nhiều sông, suối, việc lựa chọn và quản lý bãi thải thiếu chặt chẽ có thể gây sạt lở, bồi lấp, thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng đến đất sản xuất, nhà ở và an toàn của người dân khu vực hạ lưu, kể cả sau khi công trình hoàn thành.
Đại biểu đề nghị rà soát kỹ vị trí, quy mô, sức chứa và điều kiện địa chất của từng bãi thải; tận dụng vật liệu đào, đắp đáp ứng yêu cầu kỹ thuật để giảm khối lượng đất, đá phải đổ thải. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu và chính quyền địa phương trong quản lý, giám sát, phục hồi môi trường và xử lý sự cố sau thi công; tính toán đầy đủ kinh phí thực hiện trong tổng mức đầu tư dự án.
Đối với công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đại biểu Lý Thị Lan đặc biệt quan tâm đến các hộ có đất nương rẫy canh tác ổn định nhưng hồ sơ pháp lý chưa đầy đủ; các hộ không phải di dời nhà ở nhưng bị thu hồi phần lớn diện tích đất sản xuất. Đồng tình với cơ chế triển khai sớm các khu tái định cư, đại biểu đề nghị làm rõ điều kiện thực hiện, xác định chắc chắn phương án tuyến, vị trí và quy mô khu tái định cư để tránh phải điều chỉnh, gây lãng phí. Phương án tái định cư cần gắn với phục hồi sinh kế, bảo đảm đất sản xuất hoặc hỗ trợ chuyển đổi nghề phù hợp, đồng thời đáp ứng yêu cầu về hạ tầng thiết yếu và điều kiện sống lâu dài của người dân.

ĐBQH Lò Thị Việt Hà thảo luận tại tổ.
Đồng chí Lò Thị Việt Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Phó Chủ tịch Nhóm đại biểu Quốc hội trẻ, đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang đề nghị đánh giá đầy đủ tác động của các dự án đối với sinh kế, việc làm và không gian văn hóa của người dân trong khu vực bị ảnh hưởng.
Theo đại biểu, các khu tái định cư cần được đầu tư đồng bộ hạ tầng thiết yếu, bảo đảm nước sinh hoạt, trường học, công trình văn hóa và các điều kiện phục vụ đời sống trước khi đón người dân đến ở. Phương án bố trí đất sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề cần phù hợp với điều kiện thực tế, phong tục, tập quán, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, cần rà soát hệ thống đường dân sinh, lối đi và các công trình kết nối qua tuyến cao tốc, tránh tình trạng chia cắt khu dân cư với đất sản xuất, trường học, trạm y tế và nơi sinh hoạt cộng đồng; bảo đảm việc đi lại của người dân an toàn, thuận tiện. Đại biểu cũng đề nghị quan tâm kết nối giao thông đến các khu, điểm du lịch nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương.
Ưu đãi du lịch gắn với hiệu quả thực tế
Thảo luận về các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch, các đại biểu đề nghị hoàn thiện tiêu chí lựa chọn dự án, chú trọng chất lượng sản phẩm du lịch, bảo tồn giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và bảo đảm lợi ích cộng đồng. Đồng thời, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và người dân tiếp cận chính sách; việc áp dụng ưu đãi phải đi đôi với kiểm tra, giám sát, phòng ngừa tình trạng trục lợi chính sách.

ĐBQH Nguyễn Đắc Vinh phát biểu ý kiến tại phiên thảo luận.
Trao đổi tại phiên thảo luận, đồng chí Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh, việc xem xét ưu đãi, hỗ trợ cần căn cứ vào từng dự án và hiệu quả thực tế mang lại. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần đánh giá cụ thể những đóng góp của dự án đối với địa phương, gắn hiệu quả kinh tế - xã hội với yếu tố văn hóa và yêu cầu phát triển bền vững.
Đại biểu lưu ý cần phân biệt giữa hỗ trợ theo dự án và hỗ trợ theo quy mô doanh nghiệp, bởi quy mô doanh nghiệp không phải là yếu tố tự thân bảo đảm hiệu quả đầu tư. Trọng tâm cần xem xét là khả năng đáp ứng các điều kiện, tạo ra giá trị và thực hiện cam kết của dự án. Quá trình triển khai phải gắn với kiểm tra việc duy trì các điều kiện hưởng ưu đãi, làm căn cứ xem xét tiếp tục áp dụng chính sách.
Phát biểu kết luận phiên thảo luận, đồng chí Lê Thị Kim Dung lưu ý cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với những hộ đã sinh sống lâu năm tại khu vực dự án đi qua nhưng chưa có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, nhất là các trường hợp liên quan đến đất rừng. Đồng chí nhấn mạnh việc rà soát nguồn gốc đất, quá trình cư trú và hoàn cảnh cụ thể của từng hộ. Đối với những trường hợp không đủ điều kiện bồi thường về đất, cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ di dời, ổn định đời sống, bảo đảm an sinh xã hội. Việc làm rõ chính sách ngay từ khâu chuẩn bị sẽ góp phần tháo gỡ vướng mắc, tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai các dự án.
Theo Tuyên Quang Online - Xem link nguồn tại đây
